Tìm lại thương hiệu Đà Lạt: Gốc & ngọn

Giở phần hướng dẫn du lịch Đà Lạt trong cuốn Vietnam của NXB Lonely Planet, thành phố này được mô tả như “một Disneyland cao nguyên” (the Disneyland of the central highland). Những điểm du lịch lãng mạn được du khách nội địa yêu thích thì lại được mô tả như “những điểm du lịch theo kiểu gánh xiếc” (circus-style tourist attraction). Thậm chí có một địa điểm được gọi bằng một cụm từ hết sức mỉa mai – “một viên ngọc phản văn hoá” (a counter-cultural gem).

Nghịch lý

Chính cái kiểu cạnh tranh “nhà nhà làm du lịch” lâu nay đã làm Đà Lạt giảm dần sức hút đối với du khách. Kết quả là hầu hết mọi tụ điểm vốn có thương hiệu riêng đều trở thành những nồi lẩu na ná nhau: du thuyền, xe đạp vịt, những quầy lưu niệm bán cùng những món hàng không phải sản phẩm địa phương, những chàng cao-bồi cho thuê ngựa và những thanh niên hoá trang thành Tôn Ngộ Không gãi nách. Ai có cái gì mình phải có cái đó! Công thức làm du lịch của Đà Lạt lâu nay vốn thế!

Lượng khách đến Đà Lạt chủ lực vẫn là du khách nội địa. Dù đối tượng khách nội địa ngày càng bình dân hoá, cái tên “Đà Lạt” với số đông ít nhiều vẫn còn là câu thần chú hiệu nghiệm gợi lên một cái gì đó mơ mòng đầy quyến rũ.

Còn với du khách quốc tế, Đà Lạt thường chỉ là chỗ “quá cảnh một đêm” trên đường đi Nha Trang hay về TP.HCM. Điều nghịch lý là khi càng nỗ lực để tạo ra sản phẩm du lịch và cung ứng cho các du khách nước ngoài với những tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế thì Đà Lạt lại đang dần mất đi cái không khí hoài cổ của một thành phố Pháp ở phương Đông – mất đi chính cái hào quang của mình.

Ngọn…

Trong các kế hoạch phát triển du lịch Đà Lạt, đối tượng “du khách quốc tế” lại quen được xem như một khái niệm kinh tế chứ không phải là những con người với vô vàn xuất thân, đa dạng văn hoá, và khác biệt về nhu cầu.

Những lời quảng cáo gây tò mò về chất lãng mạn của Đà Lạt đã làm du khách nước ngoài thất vọng khi phát hiện ra yếu tố lãng mạn ấy – nếu có – chỉ là manh mún và rời rạc trong những tụ điểm ở cách xa nhau chứ không phải là một không gian trữ tình bàng bạc mà du khách muốn hít thở.

Chính vì thiếu cái “khí quyển” du lịch ấy mà Đà Lạt không hấp dẫn khách nước ngoài. Nhiều du khách tôi đã tiếp xúc lại thấy bãi biển Nha Trang hay thị xã Hội An có phần “lãng mạn hơn cả Đà Lạt” bởi vì những nơi ấy có được cái tổng thể nhất quán mà Đà Lạt hiện nay thiếu. Đó là sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất đối với du khách, còn các dịch vụ kèm theo chỉ là giá trị gia tăng. Tôi đã từng gặp một du khách Ý đã “ở lì” tại Hội An suốt 3 tháng liền nhưng không thể nán lại Đà Lạt lâu hơn hai ngày.

Những hình tượng đã quảng bá khắp thế giới về một địa phương nào đó sẽ được du khách mang trở về chính địa phương đó và ở đây, ngay tại quê hương của nó, những hình ảnh quảng cáo du lịch sẽ phải đương đầu với thực tế vật thể và những biểu hiện phi vật thể ở địa phương.

Mức độ thoả mãn của du khách và sự tồn tại lâu dài của công nghiệp du lịch địa phương sẽ phụ thuộc vào kết quả của cấu trúc xã hội tại nơi du lịch. Đó là sự tổng hoà của cách bố trí những khu nghỉ dưỡng, cách quy hoạch, cách hướng dẫn viên và guidebook tác động đến tập quán du lịch, cách các hàng lưu niệm được sản xuất và đầu tư ý nghĩa văn hoá…

Bao nhiêu hội thảo du lịch đã từng được tổ chức để hiến kế nâng cao và phát triển chất lượng du lịch Đà Lạt. Những lý thuyết được hình thành trong bối cảnh phương Tây chưa chắc đã phù hợp với việc thực thi du lịch ở các nước phương Đông.

Tính toàn cầu phải được xem xét theo bối cảnh địa phương để tránh việc những ý tưởng của phương Tây lại trở thành công thức áp đặt cho cả thế giới. “Nâng cao” và “phát triển” không chỉ đơn thuần là thu được nhiều tiền hơn, dùng tiền ấy tái đầu tư để làm cho mọi thứ to lớn hơn và hiện đại hơn.

… Và gốc

Đà Lạt – thành phố du lịch chỉ là một khía cạnh của Đà Lạt. Đối với người dân ở đây, Đà Lạt trước hết là quê hương. Việc phát triển du lịch phải làm sao để không phá huỷ không gian sống. Sự phá huỷ đó không những không đem lại gì tốt đẹp cho người dân ở đây mà tai hại hơn, chính người dân địa phương và cuộc sống hàng ngày của họ lại là một bộ phận không thể tách rời của sự hấp dẫn du khách phương Tây đến thành phố này.

Những ta thán của du khách về nạn cò du lịch lôi kéo, ẩu đả tranh giành; về thói mua bán chụp giựt… đã khiến chính quyền Đà Lạt cứ đến những năm có tổ chức lễ hội gần đây lại kêu gào phát huy văn hoá người Đà Lạt. Cái văn hoá đặc trưng của người Đà Lạt, hiền hoà, hiếu khách, thanh lịch… vốn là điều từng có thật. Nhưng đó không phải là chuyện phát động mà thành. Cái văn hoá ấy phải mất hơn một nửa tuổi đời của Đà Lạt mới định hình. Tất cả bắt đầu từ việc di dân có chọn lọc lên Đà Lạt để phát triển các dịch vụ phục vụ cho các quan chức Pháp.

Thời thuộc Pháp, dân thường muốn đến “Le Petit Paris” (Paris Nhỏ – một biệt danh của Đà Lạt xưa) chơi phải làm đơn gửi Sở Mật thám xét cho phép. Muốn định cư ở Đà Lạt, ngoài những yêu cầu về nhân thân và pháp lý, phải được một người dân sở tại ở Đà Lạt đồng ý bảo lãnh. Khó chẳng kém gì việc nhập cư ở Mỹ hay châu Âu bây giờ! Những yêu cầu an ninh nghiêm ngặt của chính quyền Đông Dương đã tạo ra một bản chất hiền hoà của con người nơi đây. Sau 1954, một số đông gia đình thuộc thành phần ưu tú của Hà Nội chọn Đà Lạt làm quê hương đã mang theo họ cả một dòng văn hoá trí thức.

Cái văn hoá đặc biệt của người Đà Lạt chưa mất hẳn nhưng đã mai một nhanh trong 30 năm gần đây. Không thể cứ đến lễ hội lại bắt các chị bán hàng mặc áo dài hay các anh cò du lịch khoác veston thì phát huy được văn hoá! Nếu có chiến lược quy hoạch tốt và thực thi triệt để, chỉ cần 20 năm là có thể đem lại cho Đà Lạt gương mặt mỹ miều tương xứng, nhưng phải mất nhiều thế hệ để khôi phục chốn này thành “Le Petit Paris”. Phát triển du lịch muốn bền vững phải phát triển từ cái gốc nhân văn.

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *